Đức hạnh hay công danh và tiền bạc cao hơn?
Bởi giữa công danh, tiền bạc, tài năng, phước báo, đức hạnh có khi liên quan với nhau, làm nhân quả cho nhau nhưng cũng có khi chỉ liên quan rời rạc hoặc không liên quan gì với nhau. Vì thế, Đức Phật đã xác định nhân quả là phạm trù mà không thể hiểu trọn vẹn đối với người phàm.
Thật ra, nếu chỉ nhìn bề ngoài thì chúng ta không thể nào biết được người đó có phước hay không, phước nhiều hay ít, như dân gian thường nói “thấy đỏ chưa hẳn là chín”, “thấy lấp lánh chưa chắc là vàng”. Có phải giàu là do phước và ngược lại nghèo do vô phước? Không hẳn là vậy! Có phước thì được giàu nhưng không phải cái giàu nào cũng do phước. Có cái giàu do phước đã tạo từ quá khứ, có cái giàu do tài năng nhưng cũng có cái giàu do lừa gạt, làm ăn bất chính. Nếu nói giàu nào cũng do phước thì những người giàu do tham ô, buôn gian bán lận cũng là phước sao? Nếu là phước thì tại sao sau đó họ lại bị bắt, bị ngồi tù?
Nếu giàu không hẳn là do phước nhưng nghèo thì chắc chắn là do thiếu phước rồi? Cũng không hẳn là vậy! Người thiếu phước, phước ít thì không thể giàu, như người xưa đã nói “tiểu phú do cần, đại phú do phước”. Có một số vị quan chức thì rất giàu nhưng cũng có những vị không giàu như thế. Cho nên giàu hay không còn do cách sống của người đó nữa. Nhiều người có khả năng kiếm được nhiều tiền nhưng người ta không thèm kiếm vì họ chỉ thích cuộc sống an yên. Cái giàu của những người như thế là giàu về tinh thần.
Ngay cả cái gọi là tài năng và mối liên hệ giữa tài năng và thành công, giàu có cũng có năm bảy kiểu khác nhau. Có người dùng tài năng của mình để kiếm tiền nhưng cũng có người dùng tài năng của mình để cống hiến, giúp đỡ người khác một cách vô tư, không điều kiện. Ví như những bác sĩ hay thầy giáo đều là người có trình độ, tài năng nhưng họ tình nguyện đi lên miền núi, vùng sâu vùng xa để giúp đỡ đồng bào thì làm sao mà giàu được!
Gian dối, lừa đảo để chiếm đoạt tài sản của người khác có lẽ cũng là một loại tài năng, vì không tài thì không thể nghĩ ra những chiêu trò để qua mặt được người khác, nhưng đó là cái tài đáng khinh chứ không phải cái tài đáng trọng. Cho nên có phước hay thiếu phước không thể nhìn vẻ bề ngoài mà đánh giá được. Có người hôm nay có vẻ rất “có phước” nhưng hôm sau lại bị bắt giam hoặc mất trắng cơ nghiệp chẳng còn gì.
Trong lĩnh vực tôn giáo cũng như vậy. Không phải thấy vị nào làm chức lớn, có chùa to, nhiều tiền, nhiều tín đồ là có phước. Ngược lại những vị không có công danh, tài sản thì cho là kém phước. Đức Phật là người có phước báo vô lượng nhưng mà Ngài có công danh, có tài sản nào đâu? Người chỉ lo tu thôi, tránh duyên thanh tịnh thì làm sao có tiền tài và danh phận được, nhưng không phải là họ không có phước.
Đức Phật dạy rằng: “Cho một trăm người ác ăn không bằng cho một người thiện ăn. Cho một ngàn người thiện ăn không bằng cho một người giữ Ngũ giới ăn. Cho một vạn người giữ Ngũ giới ăn không bằng cúng dường một vị Tu-đà-hoàn. Cúng dường một trăm vạn vị Tu-đà-hoàn không bằng cúng dường một vị Tư-đà-hàm. Cúng dường một ngàn vạn vị Tư-đà-hàm không bằng cúng dường một vị A-na-hàm. Cúng dường một ức vị A-na-hàm không bằng cúng dường một vị A-la-hán…”.
Ta thấy Đức Phật không hề nói cúng dường cho người có phước thì được phước mà Ngài xác quyết rằng cúng dường cho người thiện, người lành, người biết tu và người chứng đạo mới được phước. Mà người thiện, người lành, người biết tu và người chứng đạo tức là những người có phẩm hạnh, đạo đức và làm lợi ích cho người khác. Chúng ta đừng thấy người thiện, người giữ năm giới hay các bậc chân tu chứng Thánh không trực tiếp làm lợi ích cho ai theo kiểu làm từ thiện, bố thí vật chất mà cho rằng họ không có phước. Bản thân việc không làm ác đã là một hành vi bố thí, giúp đời rất lớn rồi. Nếu xã hội mà ai ai cũng không làm ác thì xã hội đó sẽ không có tệ nạn, tốt đẹp biết bao.
Đơn cử như giới không sát sinh chẳng hạn. Ta không cần phải phóng sinh nhưng chỉ cần không sát sinh thôi thì cũng đã đem đến sự an ổn, an lạc, an vui cho muôn loài rồi. Còn việc phóng sinh chưa chắc đã được như vậy, có khi tác hại và hệ lụy còn nhiều hơn. Việc bắt rồi thả, thả rồi bắt… làm cho môi trường sinh thái không lúc nào được yên. Bao nhiêu tệ nạn, biến tướng cũng từ đó mà phát sinh.
Cho nên việc giữ giới không sát sinh coi có vẻ như không làm gì cả mà thật sự đã làm rất nhiều, nhìn như không có phước mà phước đức lại tròn đầy. Ngoài ra, người không sát sinh hay những người giữ giới nói chung, tâm tư lúc nào cũng hiền lành, trong sáng khiến cho người xung quanh luôn cảm thấy bình yên. Chúng ta chỉ giữ giới thôi mà còn được phước như thế thì các bậc Thánh chứng đạo phước đức sẽ sung mãn biết dường nào.
Nếu cho rằng cúng dường người có phước thì được phước nhiều sao Đức Phật không dạy hàng Phật tử cúng dường cho cư sĩ Cấp Cô Độc mà lại dạy Phật tử cúng dường cho chư Tăng?
Chư Tăng là những người không có tài sản gì cả, có thể nói là rất nghèo nhưng Đức Phật lại hết lời ca ngợi và còn nói rằng chính họ mới là phước điền vô thượng: “Chúng đệ tử Như Lai là bậc phạm hạnh, bậc diệu hạnh, bậc trực hạnh, bậc ứng lý hạnh, bậc chánh hạnh, đáng được cung kính, đáng được tôn trọng, đáng được chắp tay, đáng được cúng dường, là vô thượng phước điền ở đời”. Rõ ràng không phải cung kính, cúng dường người có phước thì được phước mà là cung kính, cúng dường người giữ giới thanh tịnh, có trí tuệ sáng suốt và làm lợi ích chúng sinh thì mới có phước vậy.
Điều quan trọng mà chúng ta nên biết rằng, trong Phật pháp và cả ở thế gian, phước báo không phải là điều quan trọng nhất, quý giá nhất và đáng kính nhất. Điều mà tất cả mọi người đều kính trọng là đức chứ không phải phước. Một người giàu sang, danh phận có thể được rất nhiều người vây quanh, nhưng họ vây quanh để tìm kiếm lợi ích chứ không phải vì kính trọng. Thậm chí bề ngoài họ tâng bốc nhưng trong lòng có khi còn khinh khi và nói xấu sau lưng. Và khi lợi ích không còn nữa thì họ liền bỏ đi. Cho nên mới có chuyện “Còn tiền còn bạc còn đệ tử/ Hết cơm hết rượu hết ông tôi”.
Nhưng người có đức thì lại khác. Những người vây quanh người có đức không phải để tìm kiếm quyền lợi mà là do lòng kính ngưỡng. Họ đến để học hỏi và mặc dù người có đức có thể rất nghèo, không danh phận nhưng trong thâm tâm họ luôn luôn kính trọng, dù là ở trước mặt hay sau lưng. Người có đức không chỉ được bạn bè thân hữu kính trọng mà ngay cả kẻ thù, nếu có, cũng phải kính trọng cái nhân cách và đức độ của họ. Ngay cả quỷ thần cũng phải nể nang, kính sợ người có đức, “đức trọng quỷ thần kinh”.
Có một sự thật đáng buồn là ngày nay một số người không còn coi trọng đức độ cũng như kính trọng người có đức như ngày xưa. Vật chất càng phát triển thì lòng tham, dục vọng của con người càng lớn. Người ta mê đắm, say sưa vào vật chất và lấy nó làm thước do giá trị con người với nhau. Trong xã hội, người giàu, người có quyền thì được đề cao, được tuyên dương. Quyền lợi lấn át cả đạo đức, nhân nghĩa, tình người, và tình thân.
Vì “có tiền là có tất cả”. “Lúc nghèo thì chẳng ai nhìn/ Đến khi đỗ trạng trăm nghìn nhân duyên”. “Vai mang túi bạc kè kè/ Nói quấy, nói quá người nghe rần rần”. Vật chất nó đem lại cho con người nhiều lợi ích đến nỗi mà ngay cả một số người tu cũng bị lệ thuộc. Một số trường hợp tiếng nói của người nhiều tiền có sức nặng hơn tiếng nói của người có giới hạnh. Đây thật sự là dấu hiệu không tốt trong đạo pháp vậy.
Có người nói xã hội giàu lên thì tốt chứ có gì xấu mà phàn nàn? Thì đúng là tốt nhưng không phải là không có cái xấu kèm theo. Điển hình là xã hội giàu lên, con người hưởng thụ nhiều nhưng họ thực sự có hạnh phúc chưa hay còn đau khổ nhiều hơn? Rồi sự khai thác quá mức của con người làm cho nguồn tài nguyên thiên nhiên cạn kiệt. Những điều này gây ra biết bao thiên tai nhân họa. Nói một cách không quá đáng rằng, con người càng hưởng thụ vật chất nhiều thì càng tự tiêu diệt mình nhanh hơn mà thôi.
Trên đời này hễ người ta trọng cái gì thì cái đó trở nên quan trọng, được đề cao và thống trị xã hội. Nếu người ta trọng đồng tiền thì đồng tiền sẽ thống trị xã hội. Nếu người ta trọng đức hạnh thì đức hạnh sẽ thống trị xã hội. Cho nên chúng ta cần tôn trọng đức hạnh hơn công danh, tiền bạc để cho đức hạnh ngày càng được đề cao trong xã hội.
>> Xem thêm: https://adidaphat.gn.com.vn/nu-duc
Trụ pháp Sa-môn như thế nào?
"Một thời Đức Phật du hóa tại nước Xá-vệ, trong rừng Thắng, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ, Tôn giả Đàm-di, vị tôn trưởng địa phương, làm chủ Phật-đồ, được mọi người tôn sùng nhưng tánh tình hung bạo, nóng nảy, rất cộc cằn thô lỗ, hay mắng nhiếc các vị Tỳ-kheo. Vì vậy, các vị Tỳ-kheo địa phương đều bỏ đi, không muốn sống ở đó.
Các vị Ưu-bà-tắc nghe việc ấy rồi, liền cùng nhau kéo đến Tôn giả Đàm-di, xua đuổi ông ra khỏi các chùa địa phương. Bấy giờ Tôn giả Đàm-di bị các vị Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi ra khỏi các tinh xá địa phương, liền vấn y, mang bát du hành đến nước Xá-vệ, dần dà đến vườn Cấp Cô Độc, rừng Thắng, nước Xá-vệ. Rồi Tôn giả Đàm-di đi đến chỗ Phật, cúi đầu lễ sát chân Ngài, ngồi sang một bên mà bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn, con đối với Ưu-bà-tắc địa phương không có điều gì xấu xa, chẳng nói việc chi, không xúc phạm đến ai, nhưng các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi con ra khỏi các chùa địa phương.
Khi đó, Đức Thế Tôn bảo rằng:
- Đàm-di, ngươi trụ trong Sa-môn pháp mà bị các Ưu-bà-tắc địa phương xua đuổi ra khỏi các tinh xá địa phương sao?
Lúc đó Tôn giả Đàm-di liền từ chỗ ngồi đứng dậy, chắp tay hướng Phật, bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn, thế nào gọi là Sa-môn trụ trong pháp Sa-môn?
>> Tham khảo: Kinh

…
Đức Thế Tôn dạy:
- Này Đàm-di, cũng vậy, nếu có Tỳ-kheo bị người mắng nhiếc, không mắng nhiếc lại; bị người sân giận không sân giận lại; bị người quấy phá, không quấy phá lại; bị đánh đập không đánh đập lại. Này Đàm-di, như vậy gọi là Sa-môn trụ Sa-môn pháp.
Lúc đó, Tôn giả Đàm-di liền từ chỗ ngồi, trịch vai áo đang mặc, chắp tay hướng Phật khóc lóc rơi lệ, bạch rằng:
- Bạch Thế Tôn, con không phải là Sa-môn trụ Sa-môn pháp. Từ nay về sau con sẽ là Sa-môn trụ Sa-môn pháp".
(Kinh Trung A-hàm, phẩm Đại, kinh Giáo, số 130 [trích])
Chuyện Tỳ-kheo Đàm-di (P: Dhammika), ỷ mình là người có quyền thế ở địa phương rồi ứng xử thô tháo, mắng nhiếc các bạn đồng tu, khiến cho họ bỏ đi trú xứ khác đã có từ thời Thế Tôn. Khi sự việc xảy ra, các Phật tử trong vùng rất bất bình đã liên kết cùng nhau đuổi Tỳ-kheo Đàm-di ra khỏi tinh xá.
Tuy thường ngày hung hăng, thô tháo nhưng khi bị đuổi khỏi chùa thì Tỳ-kheo Đàm-di rất đau buồn, lòng miên man nghĩ ngợi về nguyên nhân vì sao các Phật tử không hộ trì mình? Mình chỉ nặng nhẹ với các Tỳ-kheo khác mà sao các nam Phật tử (Ưu-bà-tắc) lại nặng tay với mình? Thì ra muôn đời nay hàng Phật tử luôn hộ trì chúng Tăng, ai xúc phạm hay tổn hại đến chúng Tăng thì sớm muộn gì cũng bị họ tẩy chay, hoặc quay lưng trong im lặng.
Ngày nay, những chuyện tương tự thỉnh thoảng vẫn xảy ra. Một số vị có chức quyền trong chùa đôi lúc ứng xử thiếu tôn trọng, xem nhẹ tinh thần lục hòa. Vì thế, Tăng chúng lần lượt ra đi, Phật tử tiếc thương cho chùa ngày càng cô quạnh. Xu hướng Tăng Ni ra lập am cốc riêng ngày một gia tăng cũng có phần vì lý do tế nhị này. Theo quan điểm của Thế Tôn, nguyên nhân chính của vấn đề là Sa-môn mà không trụ trong pháp của Sa-môn.
Nếu chư vị Tăng Ni đều thấm nhuần pháp “Tỳ-kheo bị người mắng nhiếc, không mắng nhiếc lại; bị người sân giận không sân giận lại; bị người quấy phá, không quấy phá lại; bị đánh đập không đánh đập lại” thì có thể sống chung an lạc. Nhẫn nhục, từ bi, không làm tổn hại nhau là những đức tính quý báu để xây dựng đời sống lục hòa. Mỗi người đều trụ trong pháp của Sa-môn thì sẽ sống chung an lạc và xây dựng Tăng đoàn lớn mạnh.
Nghi Thức Tụng Kinh Dược Sư Tại Nhà
Nghi Thức Tụng Kinh Dược Sư Tại Nhà
Xem chi tiết: https://adidaphat.gn.com.vn/kinh
Cách Trì Chú Dược Sư Vào Ly Nước
Trì Trú Dược Sư vào ly nước để làm gì?
Chữa bệnh bằng nước chú nguyện là thực hành phổ biến ở Tây Tạng. Lama và hành giả thiền thường sử dụng chú nguyện vào nước, sau đó bệnh nhân uống. Thực hành này kết hợp thiền định và trì tụng mật chú của các vị như Quán Thế Âm, Phật Dược Sư. Nước chú nguyện sau đó được uống nhiều lần trong ngày.
Đây là phương pháp đặc biệt hiệu quả cho trẻ và người già, những người khó tập trung hoặc thực hiện các hoạt động tâm linh. Đây cũng là cách chữa bệnh cho những người khó tiếp xúc. Bạn có thể chú nguyện vào nước và sử dụng cho bản thân hoặc người khác.
Mật chú thường được sử dụng để tạo năng lực trong một chất liệu và sau đó được áp dụng để chữa bệnh, đặc biệt là các bệnh liên quan đến xương. Cũng có thể chú nguyện vào bột hoặc kem và áp dụng ngoài da.
Mật chú không chỉ chữa bệnh về cơ thể mà còn tịnh hóa tâm. Uống nước chú nguyện cũng nhằm chữa lành những căn bệnh nội tâm lâu dài, tạo sự tịnh hóa tâm hồn.
Cách Trì Chú Dược Sư Vào Ly Nước
Chú nguyện vào nước bằng cách đặt lọ nước trước mặt bạn. Tưởng tượng hình ảnh dòng sữa cam lồ chảy vào nước nhờ lòng bi mẫn của Đức Phật. Trì tụng mật chú nhiều lần và thổi vào nước.
Với mỗi mật chú, lời nói của bạn có sức mạnh và hơi thở chứa đựng nhiều sức chú nguyện hơn. Hơi thở của bạn có khả năng chữa bệnh nhờ vào năng lực của mật chú và lòng bi mẫn của Đức Phật.
Mỗi giọt nước chú nguyện đều mang theo năng lực chữa bệnh không tưởng, không chỉ giúp lành bệnh cơ thể mà còn giải quyết nhiều vấn đề tâm linh khác
Tinh thần bình đẳng trong Phật Giáo như thế nào?
Chúng sinh tuy bình đẳng nhưng căn tính bất đồng. Bình đẳng trên chân lý không phải là mọi người ngang hàng bằng nhau. Vì trên thực tế, tất cả chúng sinh đều hiện hữu độc nhất sai biệt (unique self, matchless body, only one of its kind, same different,) hiểu biết, đức hạnh, tài năng, hoàn cảnh, điều kiện, môi trường, nhân duyên nghiệp quả của mọi người không giống y nhau.
>> Xem chi tiết: https://adidaphat.gn.com.vn/dao-phat
Chỉ khi nào chúng ta nắm bắt được chân lý, đạt từ nhân Phật đến quả vị Phật, mới thật sự bình đẳng. Phật là Phật!
Trong Kinh Pháp Hoa Giảng Giải, Chương 13, Phẩm Khuyên Trì, Prof. Lê Sỹ Minh Tùng viết, “Sau khi Phật thọ ký cho tất cả Tỳ kheo thì hiện tượng Long nữ mới vừa tám tuổi tức thì được thành Phật làm cho tất cả các vị Tỳ kheo Ni bàng hoàng xúc động. Các bà nghĩ rằng một đứa bé gái mang thân rồng mà còn thành Phật thì không lẽ chúng ta đã xã thân quyết chí tu hành mà không thể thành được chăng? Hiểu được tâm trạng của các bà nên Đức Phật bây giờ chính thức thọ ký cho Dì Mẫu, Tỳ Kheo Ni Gia Du Đà La, và 6,000 Tỳ Kheo Ni trong hàng hữu học và vô học sẽ thành Phật. Nói thành Phật, nhưng đâu phải thành Phật ngay như nàng Long Nữ mà phải trải qua vô lượng kiếp tu hành, đầy đủ công hạnh Bồ Tát, trí tuệ vẹn tròn thì lúc đó mới thành Phật. Một lần nữa, thọ ký phải được hiểu như là một lời khích lệ từ Đức Thế Tôn để khuyến khích chúng sinh cố gắng hóa giải cho hết những vẫn đục trong tâm thức của mình, chớ thật ra Phật không cho chúng sinh cái gì cả. Tri Kiến Phật vốn đã có sẵn trong mỗi chúng sinh, chớ cái Phật Tánh này không do Phật ban cho, vì thế Phật biết, trong mỗi chúng sinh đã có sẵn cái mầm Phật Tánh nên Ngài mới thọ ký tức là khuyến khích cho họ cố gắng nhận biết để tỏ ngộ, và sau cùng thâm nhập cái Phật Tánh thiêng liêng huyền diệu của chính mình đó thôi.”
Trong Kinh Pháp Hoa có hai hiện tượng bình đẳng đối nghịch rất kỳ lạ. Trong phẩm Đề Bà Đạt Đa, ác nhân thành Phật. Chẳng những chúng ta mà cả các vị Thánh Tăng từ xưa đến nay cũng thường lưu tâm, và đưa ra nhiều cách giải thích khác nhau. Có thể nói đó là vấn đề sâu sắc của Kinh Pháp Hoa.
Có thật là tất cả những gì trong Kinh Pháp Hoa cũng đều là sâu sắc và cao siêu cả?
Trong ‘Ngụy Kinh là sự thật nhưng bị che dấu của Đức Chính,’ “Quay trở lại cuốn Tứ Phần Luật chúng ta xem Phật nhận xét gì về Đề-bà-đạt-đa. Đức Phật dạy: Kẻ si phá Tăng này, có tám điều phi chánh pháp trói buộc, che lấp, tiêu diệt thiện tâm, Đề-bà-đạt-đa đã hướng đến phi đạo trong nê-lê một kiếp, không thể cứu được. Tám điều phi chánh pháp ấy là gì? Lợi, không lợi, khen, không khen, cung kính, không cung kính, ác tri thức, ưa bạn ác. Có tám điều phi chánh pháp như vậy trói buộc, che lấp, tiêu diệt thiện tâm, Đề-bà-đạt-đa đã hướng đến phi đạo trong nê-lê một kiếp, không thể cứu được. Nếu Ta thấy Đề-bà-đạt-đa có thiện pháp bằng sợi lông, sợi tóc, thì Ta đã không ghi nhận và nói ‘Đề-bà-đạt-đa sẽ ở trong nê-lê một kiếp không thể cứu được.’ Do Ta không thấy Đề-bà-đạt-đa có được thiện pháp bằng sợi lông, sợi tóc, nên Ta mới ghi nhận và nói, ‘Đề-bà-đạt-đa sẽ ở trong nê-lê một kiếp không thể cứu được.’ Thí như một người chìm trong hố xí. Có người muốn kéo nó ra. Nhưng không thấy ở nơi nó có chỗ sạch nào bằng sợi lông, hay sợi tóc để dùng tay nắm nó kéo ra. Nay quán sát Đề-bà-đạt-đa cũng lại như vậy, Ta không thấy có một bạch pháp nào bằng sợi lông, hay sợi tóc. Bởi vậy, Ta nói, ‘Đề-bà-đạt-đa sẽ ở trong nê-lê một kiếp không thể cứu được.’[phẩm Phá Tăng]. Một kiếp mà Phật nói rất dài
Sao lại mâu thuẩn thế? Hơn nữa, chẳng thấy ngài Đa Văn A-nan tụng đọc đoạn nào cho thấy Phật tuyên hứa sau này Đề-bà-đạt-đa thành chánh quả cả, nhất là chẳng thấy giáo pháp nào biện minh cho câu, “Nhưng chính con người ác tâm ấy, chính những hành động trái nghịch đó là thước đo về đức tính từ bi nhẫn nhục, là phương tiện để đạt thành lý đạo.” Chúng ta chưa vội quy Diệu Pháp Liên Hoa Kinh là ngụy kinh hay chân kinh dù biết rằng kinh này xuất hiện vào khoảng năm 200 sau Công nguyên (tức 700 năm sau khi Phật nhập Niết-bàn), điểm chính ở tiểu mục này là hình thái biến kiến giải riêng thành một đoạn kinh.”

Ai cũng biết Đề Bà Đạt Đa là anh ruột của Ananda. Cả hai là em họ của Đức Phật. Ananda suốt đời theo hầu phật. Trong khi đó, Đề Bà Đạt Đa suốt đời theo phá Phật, muốn giết Phật, vì bất mãn không được học thần thông. Tuy nhiên, trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật khen ngợi công đức của Đề Bà Đạt Đa, nhờ ông thượng mạn, manh tâm hãm hại mà Đức Phật mau thành Vô Thượng Đẳng Giác. Trong thời quá khứ, Đề Bà Đạt Đa đã từng dạy Kinh Pháp Hoa cho Đức Thế Tôn, và Đức Phật thọ ký cho ông trong tương lai sẽ thành Phật hiệu là Thiên Vương. Nhưng tại sao trong kiếp này ông ta gian ác như vậy thì chưa ai giải thích nổi? Hay là ông ta là cái thử thách (test) của Phật? Đề Bà Đạt Đa phải diễn xuất cái vai bồ tát gian ác xuất thần, vì nếu Đề Bà Đạt Đa biết được kiếp trước ông đã từng dạy Phật về Kinh Pháp Hoa, thì ông có thể là một diễn viên tồi trong kiếp ‘gặp Phật, giết Phật’ này? Tuy nhiên, nói là một chuyện mà thực tế là một chuyện khác, chúng ta không được như Đức Thế Tôn, cho nên đừng ngu muội lạy mừng những kẻ manh tâm hại mình. Nếu có thể, nên xem những oan gia, nghiệp chướng đó như là những thử thách của nghiệp quả mà mình phải cưu mang trong kiếp này. Lấy ân đức báo oán, oán tiêu tan. Nói thì dễ làm thì rất khó khăn. Chỉ có kẻ ngu, thấp trí, kém dũng, mới đưa má bên kia cho nó tát tiếp. Chúng ta không có nội công kim cương bất hoại thể như Phật. Cho nên, chúng ta dù không đánh trả, cũng không nên dại dột cho phép nó làm tổn thương đến mình.
>> Xem thêm: https://adidaphat.gn.com.vn/kinh
Đồng hồ Rolex Datejust 41 Mặt số nâu chocolate Cọc số kim cương
Thương hiệu đồng hồ Rolex dường như đã quá đỗi quen thuộc với người chơi đồng hồ không chỉ ở Việt Nam, lịch sử ngành công nghiệp đồng hồ có nhiều nốt thăng trầm lên xuống nhưng dường như thương hiệu vương miện Rolex vẫn không ngừng phát triền, cải tiến kỹ thuật và để lại trong tâm trí người chơi qua nhiều thế hệ là những ấn tượng tốt, hình ảnh đẹp, chất lượng chuẩn mực của những chiếc đồng hồ thèm được sở hữu nhất.


Phiên bản đồng hồ Rolex Datejust 41 mã hiệu 126331-0004 xuất hiện trong lớp vỏ Oyster chế tác bằng thép độc quyền 904L oystersteel nổi bật với chất lượng hoàn thiện sáng bóng thân vỏ, lớp vỏ áo giáp này cùng núm vặn dạng xoắn vít 2 tầng twinlock chống thấm nước bảo vệ đồng hồ an toàn ở độ sâu 100m. Vành đồng hồ bezel dạng rãnh khía được làm từ vàng hồng everose độc quyền, độ tương phản ánh sáng bắt mắt giúp nhận diện cho phiên bản đồng hồ Rolex Datejust được tốt hơn.

Phiên bản đồng hồ Rolex Datejust 126331 được hãng thiết kế lớp gam màu mặt số nâu chocolate, mỗi lớp mặt số của đồng hồ rolex đều được hãng hoàn thiện chế tác thủ công từ những nghệ nhân có thâm niên tay nghề đạt chuẩn. Gam màu mặt số nâu chocolate của đồng hồ Rolex Datejust 126331 là một trong những gam màu mặt số được yêu thích nhất bởi người chơi đồng hồ khắp nơi.

Bộ dây đeo đồng hồ Jubilee được hãng Rolex chế tác với chất liệu thép oystersteel và vàng hồng everose độc quyền, thiết kế 5 mối nối nổi bật, lên thoáng tay và ôm gọn cổ tay người đeo, bộ dây Jubilee dường như đã khẳng định vị thế là một trong những bộ dây đeo chất lượng và ăn điểm nhất của bộ sưu tập Datejust. Bộ dây jubilee có độ hoàn thiện tỷ mỷ đánh bóng 3 mối nối giữa và xước mờ hai mối nối còn lại, tạo tổng thể ăn khớp với thân vỏ oyster của phiên bản Rolex Datejust 126331.
>> Xem thêm: đồng hồ rolex cosmograph daytona

Bộ chuyển động Calibre 3235 Automatic của phiên bản Rolex Datejust 41mm mã hiệu 126331-0003 có độ chính xác +/-2s/ ngày, tích hợp các công nghệ độc quyền cùng bằng sáng chế của hãng và đều được kiểm nghiệm đạt chuẩn Superlative Chronometer cho sự chính xác và chất lượng bền bỉ mà mỗi cỗ máy đồng hồ Rolex xuất xưởng. Bộ chuyển động Calibre 3235 được trang bị dây tóc xanh Parachrom kháng từ tốt hơn, sử dụng công nghệ Paraflex giúp chống sốc tốt hơn.
>> Xem thêm: đồng hồ rolex day date
"DHCH | Thương hiệu Đồng Hồ Chính Hãng của các thương hiệu đồng hồ nổi tiếng Nga, Thụy Sĩ. Với hơn 30 thương hiệu đồng hồ cao cấp, khách hàng thoải mái lựa chọn những sản phẩm có mức giá phù hợp và chế độ bảo hành chất lượng, uy tín số 1 Việt Nam. Address: 5A Lê Đức Thọ, Mai Dịch, Cầu Giấy, Hà Nội, Việt Nam.
Email: dhch1980@gmail.com .
Support 24/7: (+84) 90463 7007
Biến chứng bàn chân do đái tháo đường
Biến chứng bệnh tiểu đường - Biến chứng bàn chân do đái tháo đường (DFD) có tỷ lệ mắc cao hơn ở nam giới và bệnh nhân trên 60 tuổi. Gánh nặng của DFD dự kiến sẽ tăng lên trong tương lai do sự phổ biến của các yếu tố khuynh hướng, chủ yếu là bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường và thiếu máu cục bộ chi ngoại vi liên tục gia tăng.
Tỷ lệ người mắc biến chứng bàn chân do đái tháo đường hằng năm trên thế giới ước tính khoảng 4%-10%, trong số đó có tới 1%-4% bệnh nhân đã bị viêm loét. Nguy cơ suốt đời đối với sự phát triển của loét bàn chân do đái tháo đường dao động từ 15%-25%.
Biến chứng bàn chân do đái tháo đường có thể dẫn đến cắt cụt chi
Biến chứng bàn chân do đái tháo đường là gì?
Biến chứng bàn chân do đái tháo đường (DFD) một thuật ngữ y khoa để chỉ tổn thương những dây thần kinh do bệnh đái tháo đường gây ra. Các loại đặc biệt như bệnh nhân thần kinh ngoại biên di truyền Charcot–Marie–Tooth cũng được đưa vào DFD. Bệnh nhân mắc biến chứng bàn chân do đái tháo đường cũng có nhiều khả năng xuất hiện các biến chứng khác liên quan đến đái tháo đường như bệnh thận, bệnh võng mạc, thiếu máu cơ tim và bệnh mạch máu não.
Theo bác sĩ Võ Đôn, biến chứng bàn chân do đái tháo đường (DFD) là một biến chứng phổ biến có tính chất đa yếu tố. Do đó, việc hiểu rõ về các yếu tố nguy cơ dễ mắc phải khác nhau của bệnh sẽ giúp ích trong cả việc phòng ngừa và điều trị.
>> Tham khảo: Triệu chứng tiểu đường type 1
Nguyên nhân gây biến chứng bàn chân do đái tháo đường
Biến chứng bàn chân do đái tháo đường (DFD) bao gồm một số bệnh lý, chủ yếu là bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường và bệnh động mạch ngoại vi dẫn đến loét bàn chân. Loét bàn chân do đái tháo đường cuối cùng có thể dẫn đến cắt cụt chi, đặc biệt là khi nhiễm trùng vết thương hoặc viêm tủy xương.
- Bệnh thần kinh đái tháo đường: Là các rối loạn chức năng thần kinh ngoại biên ở người bệnh đái tháo đường, sau khi loại trừ các nguyên nhân có thể gây ra bệnh thần kinh ngoại vi khác. Sự hiện diện của bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường là yếu tố khởi đầu của sự phát triển loét bàn chân ở bệnh nhân đái tháo đường. Khi dây thần kinh bị tổn thương sẽ dẫn đến tê ngoại vi chi dưới, khó cảm nhận được cảm giác ở ngon chi, khó chịu, đau nhức hoặc nhiễm trùng trên bàn chân. Rối loạn cảm giác này có thể dẫn đến tăng nguy cơ bị lở loét và phồng rộp. Nếu người bệnh không được điều trị nhiễm trùng, các vết loét có thể phát triển thành hoại thư, dẫn đến việc phải cắt cụt chi. Nguy cơ loét bàn chân do đái tháo đường tăng gấp 7 lần ở những bệnh nhân bị bệnh thần kinh ngoại vi do đái tháo đường. Ước tính có khoảng 45%- 60% tất cả các vết loét ở bệnh nhân đái tháo đường chủ yếu là do bệnh lý thần kinh, trong khi 45% các vết loét là do các yếu tố thần kinh và thiếu máu cục bộ kết hợp.
- Bệnh mạch máu ngoại vi (PAD): Là một trong những nguyên nhân đa yếu tố dẫn đến bệnh đái tháo đường bàn chân. Sự hiện diện của PAD làm thay đổi phản ứng bình thường của cơ thể đối với các vết loét ở bàn chân và dẫn đến tình trạng loét chân dai dẳng không lành khi nhu cầu cung cấp máu tăng lên. PAD dẫn đến sự tiến triển của nhiễm trùng, làm tăng sự phá vỡ mô, thiếu oxy, dinh dưỡng và kháng sinh. Tất cả những yếu tố này càng góp phần vào khả năng bị cắt cụt chân.
- Các yếu tố, nguy cơ khác: Ngoài bệnh thần kinh ngoại biên do đái tháo đường và bệnh mạch máu ngoại vi, một số yếu tố nguy cơ khác có thể bao gồm: Ít vận động khớp; dị tật bàn chân và có vết loét hoặc từng bị cắt cụt chi trước đó ở cùng một bên hoặc bên cạnh; suy giảm thị lực; lớn tuổi; bệnh thận mãn tính; bệnh đái tháo đường kéo dài và tăng đường huyết không kiểm soát được.
Các triệu chứng của biến chứng bàn chân do đái tháo đường
Các triệu chứng bàn chân của bệnh đái tháo đường có biểu hiện khác nhau, phụ thuộc vào các vấn đề cụ thể mà người bệnh đang gặp phải trong từng thời điểm. Song những triệu chứng chung phổ biến nhất mà người bệnh có thể gặp phải thường bao gồm: Mất cảm giác, cảm giác tê hoặc ngứa ran, xuất hiện vết phồng rộp hoặc các vết thương khác không đau, sự thay đổi màu da và nhiệt độ, vệt đỏ, vết thương có hoặc không có dịch tiết, đau nhói…
Nếu tình trạng nhiễm trùng phát triển, người bệnh cũng có thể gặp phải một số dấu hiệu bao gồm: Sốt, ớn lạnh, không kiểm soát được lượng đường trong máu, sốc, các chi tấy đỏ… Nếu gặp phải các triệu chứng nhiễm trùng, đặc biệt là ở bàn chân, người bệnh phải đến bệnh viện để được điều trị khẩn cấp. – Bác sĩ Đôn khuyến cáo.
Mất cảm giác, cảm giác tê hoặc ngứa ran, xuất hiện vết phồng rộp hoặc các vết thương khác không đau, sự thay đổi màu da và nhiệt độ, vệt đỏ, vết thương… là các dấu hiệu phổ biến của biến chứng bàn chân do đái tháo đường
Các biến chứng bàn chân do đái tháo đường
Bệnh thần kinh đái tháo đường và bệnh mạch máu ngoại vi có thể gây ra các biến chứng ảnh hưởng nghiêm trọng, liên tục như: Loét chân hoặc vết thương không lành; nhiễm trùng bao gồm nhiễm trùng da, nhiễm trùng xương và áp xe; hoại thư, khi nhiễm trùng gây chết mô biến dạng chân; bàn chân Charcot (Charcot’s foot), làm thay đổi hình dạng của bàn chân do xương bàn chân và ngón chân bị dịch chuyển hoặc gãy; Thay đổi thể chất vĩnh viễn do hoại thư; cắt cụt chân…
Theo bác sĩ Đôn, để các biến chứng nguy hiểm không xảy ra, cách duy nhất là người bệnh cần được quản lý tốt tình trạng đái tháo đường bằng cách uống thuốc và kiêng khem trong việc ăn uống, sinh hoạt nghiêm ngặt theo chỉ dẫn của bác sĩ.
Bệnh tiểu đường có bao nhiêu loại?
Bệnh tiểu đường (đái tháo đường) là gì mà số lượng bệnh nhân không ngừng tăng mỗi năm? Không những thế, căn bệnh này đang trở thành gánh nặng y tế tại các nước thu nhập trung bình đến thấp, hay thậm chí ở các nước phát triển. Hãy cùng tìm hiểu căn bệnh này và những biến chứng tiểu đường thông qua bài viết dưới đây. Dự tính đến năm 2030, cả thế giới sẽ có hơn 500 triệu người mắc đái tháo đường. Bệnh đái tháo đường, đặc biệt là đái tháo đường týp 2, là nguyên nhân nhiều nhất gây mù lòa, chạy thận nhân tạo và đoạn chi. Song song đó, các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim, đột quỵ do đái tháo đường cũng là những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu.
Bệnh tiểu đường là gì?
Dấu hiệu tiền tiểu đường - Để tìm hiểu về bệnh, trước hết ta cần biết bệnh tiểu đường là gì? Bệnh tiểu đường, còn gọi là bệnh đái tháo đường, là một bệnh rối loạn chuyển hóa mạn tính rất phổ biến. Khi mắc bệnh, cơ thể mất đi khả năng sử dụng hoặc sản xuất ra hormone insulin một cách thích hợp, đồng nghĩa với việc bạn có lượng đường trong máu hay vượt mức bình thường và cơ thể không có khả năng tự điều chỉnh lượng đường trở lại mức bình thường. Tình trạng này có thể gây ra các vấn đề nghiêm trọng cho cơ thể, bao gồm cho cả mắt, thận, thần kinh và tim.
Phân loại bệnh tiểu đường
Bệnh tiểu đường có bao nhiêu loại?
Bệnh tiểu đường được phân ra ba loại chính, đó là tiểu đường týp 1, tiểu đường týp 2 và bệnh tiểu đường thai kỳ.
Bệnh đái tháo đường (tiểu đường) týp 1
Bệnh tiểu đường týp 1, là chứng rối loạn tự miễn, trong đó hệ thống miễn dịch của cơ thể tấn công các tế bào tuyến tụy là nơi sản xuất insulin thay vì các yếu tố bên ngoài. Điều này sẽ gây ra sự thiếu hụt insulin và tăng lượng đường huyết. Nếu bạn bị tiểu đường týp 1, các triệu chứng sẽ xuất hiện rất sớm và ở độ tuổi khá trẻ, thường là ở trẻ nhỏ hay tuổi vị thành niên. Hiện nay vẫn chưa xác định được nguyên nhân chính xác của bệnh tiểu đường týp 1. Tuy nhiên, bạn có thể có nguy cơ cao bị bệnh tiểu đường týp 1 nếu:
- Mẹ hoặc anh chị em bị bệnh tiểu đường týp 1.
- Tiếp xúc với một số virus gây bệnh.
- Sự hiện diện của kháng thể bệnh tiểu đường.
- Thiếu vitamin D, sớm sử dụng sữa bò hoặc sữa bột có nguồn gốc từ sữa bò, và ăn các loại ngũ cốc trước 4 tháng tuổi. Mặc dù chúng không trực tiếp gây ra bệnh tiểu đường týp 1, nhưng cũng góp phần làm tăng tỉ lệ mắc bệnh.
- Các nước như Phần Lan và Thụy Điển, có tỷ lệ mắc bệnh tiểu đường týp 1 khá cao.
Bệnh đái tháo đường (tiểu đường) týp 2
Đây còn gọi là bệnh tiểu đường không phụ thuộc insulin (NIDDM), là loại tiểu đường phổ biến nhất, chiếm 90% đến 95% tổng số bệnh nhân. Bệnh thường xuất hiện ở tuổi trưởng thành, nhưng do tỷ lệ béo phì ngày càng cao ở người trẻ tuổi nên hiện nay độ tuổi mắc bệnh tiểu đường týp 2 ngày càng trẻ.
Các loại khác của bệnh
Đái tháo đường thai kỳ là một loại tiểu đường chỉ xảy ra ở phụ nữ mang thai. Bệnh này có thể gây ra các vấn đề cho cả bà mẹ và trẻ sơ sinh nếu không được theo dõi kĩ càng. Tuy nhiên, bệnh tiểu đường thai kỳ thường tự hết sau khi sinh con. Các loại tiểu đường khác thì ít gặp hơn, nguyên nhân có thể đến từ hội chứng di truyền, phẫu thuật, thuốc, suy dinh dưỡng, nhiễm trùng hoặc khi mắc các bệnh khác. Đái tháo nhạt, mặc dù có tên gần giống với các loại trên, là một trường hợp bệnh khác gây ra do thận mất khả năng trữ nước. Tình trạng này là rất hiếm và có thể điều trị được.

Nguyên nhân gây bệnh - Nguyên nhân gây biến chứng tiểu đường
Để biết được nguyên nhân gây bệnh tiểu đường là gì, đầu tiên bạn phải hiểu được quá trình chuyển hóa glucose trong cơ thể.
Trao đổi glucose
Glucose là chất cần thiết cho cơ thể của bạn, nó đóng vai trò là nguồn năng lượng cho các tế bào của cơ bắp và các mô, đặc biệt não bộ. Glucose có trong thực phẩm bạn ăn và được dự trữ trong gan dưới dạng glycogen. Trong trường hợp bạn biếng ăn dẫn đến lượng glucose trong máu quá thấp, gan của bạn sẽ ly giải những phân tử glycogen thành glucose và cân bằng lại lượng đường trong máu. Máu hấp thụ glucose và cung cấp cho các tế bào trong cơ thể. Tuy nhiên, các tế bào này không thể sử dụng nguồn “nhiên liệu” này một cách trực tiếp, mà phải có sự hỗ trợ của hormone insulin (được sản xuất bởi tuyến tụy). Sự có mặt của insulin cho phép glucose được hấp thu vào các tế bào, làm giảm nồng độ glucose trong máu. Sau đó, khi đường huyết của bạn đã giảm, tuyến tụy cũng sẽ giảm sản xuất insulin. Bất kỳ sự bất thường nào xảy ra trong quá trình trao đổi chất này đều có thể làm cho glucose không thể đi vào các tế bào và cung cấp năng lượng. Kết quả là lượng đường vẫn còn trong máu. Sự mất cân bằng này được tích lũy qua thời gian và dẫn đến lượng đường trong máu cao đáng kể, được gọi là tăng đường huyết.
Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường tuýp 1
Nguyên nhân chính xác gây bệnh tiểu đường týp 1 không rõ. Theo các chuyên gia, nguyên nhân tiểu đường có thể là do hệ thống miễn dịch tấn công và phá hủy các tế bào sản xuất insulin của tuyến tụy. Điều này khiến bạn có ít hoặc không có đủ insulin. Lúc này, lượng đường thay vì chuyển đến các tế bào lại tích lũy trong máu, gây ra bệnh tiểu đường. Bệnh tiểu đường týp 1 được cho là do tính nhạy cảm di truyền và các yếu tố môi trường gây ra, mặc dù các yếu tố chính xác gây bệnh vẫn chưa rõ.
Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường týp 2 và tiền tiểu đường
Ở những người bị tiền tiểu đường và tiểu đường týp 2, các tế bào trở nên đề kháng với hoạt động của insulin và tuyến tụy không thể tạo đủ insulin. Lúc này, đường sẽ không thể đến các tế bào trong cơ thể mà tích tụ trong máu. Khi mắc tiểu đường tuýp 2, các tế bào trong cơ thể trở nên đề kháng với insulin, và tuyến tụy không thể tạo ra đủ lượng insulin để bù đắp. Thiếu insulin nên đường sẽ tích tụ lại trong máu thay vì di chuyển vào các tế bào để tạo ra năng lượng. Các bác sĩ tin rằng yếu tố di truyền và môi trường có liên quan đến sự phát triển của bệnh tiểu đường týp 2. Thừa cân là yếu tố nguy cơ chủ yếu, nhưng không phải tất cả những người bị tiểu đường týp 2 đều thừa cân.
Nguyên nhân gây bệnh tiểu đường thai kỳ
Trong thời kỳ mang thai, nhau thai tạo ra kích thích tố để duy trì thai kỳ của bạn. Những kích thích tố này làm cho các tế bào có khả năng kháng insulin tốt hơn. Thông thường, tuyến tụy đáp ứng bằng cách sản xuất đủ insulin để vượt qua sức đề kháng này. Tuy nhiên, đôi khi tuyến tụy không thể sản xuất đủ insulin. Khi điều này xảy ra sẽ dẫn đến lượng đường vận chuyển vào các tế bào giảm và lượng tích tụ trong máu tăng, dẫn đến tiểu đường thai kỳ.
>> Xem thêm: Bài tập thể dục hạ đường huyết